Rút đơn kiện có được khởi kiện lại không? hết thời hiệu khởi kiện thì sao?

Khi nộp đơn khởi kiện đang chờ tòa án thụ lý hoặc sau khi tòa án thụ lý đang giải quyết mà đương sự rút đơn kiện có được khởi kiện lại để hòa giải, thương lượng hoặc vì bất cứ lý do gì khác. Đến nay, đương sự muốn khởi kiện lại vụ án thì quy định pháp luật cụ thể ra sao.

Dịch vụ luật sư tư vấn, đại diện giải quyết tranh chấp tại tòa án liên hệ 0779288883 hoặc Zalo

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 số 92/2015/QH13
  • Nghị Quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

Khởi kiện lại là gì?

Khởi kiện lại là việc một vụ án bị đình chỉ hoặc bị ra quyết định trả lại đơn khởi kiện được tòa án tiếp tục giải quyết.

Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì?

Căn cứ Điều 218 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về hậu quả của đình chỉ vụ án dân sự thì đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật dân sự và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.;

Như vậy, khi khởi kiện lại mà thuộc trường hợp không được quyền khởi kiện lại thì tòa án trả lại đơn khởi kiện.

Đương sự rút đơn kiện có được khởi kiện lại trong trường hợp nào?

Căn cứ Điều 218, khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Dân sự các trường hợp được quyền nộp đơn khởi kiện lại là:

– Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Dân sự:

  • Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
  • Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
  • Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
  • Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành khoản 1 và khoản 3 Điều này.

– điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Dân sự:

  • Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;…

– Các trường hợp khác được quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật:

Các trường hợp khác theo quy định pháp luật về quyền khởi kiện lại tại điểm d khoản 3 Điều 192 BLTTDS được cụ thể tại khoản 3 Điều 7 Nghị Quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/5/2017  các trường hợp trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chưa quy định nhưng đã được quy định trong Nghị quyết này, các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên:

  • Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó;
  • Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
  • Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01-01-2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó;
  • Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị quyết này. (“4. Trường hợp vụ án bị đình chỉ giải quyết theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều này thì theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án đó khi cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”)

Hết thời hiệu khởi kiện vụ án thì có khởi kiện được không?

Căn cứ khoản 2, Điều 7 Nghị Quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tối cao ngày 05/5/2017 quy định: Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không quy định căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy, Tòa án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn khởi kiện. Trường hợp kể từ ngày 01-01-2012, Tòa án trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại vụ án đó thì Tòa án xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

Dịch vụ luật sư tư vấn, đại diện giải quyết tranh chấp tại tòa án liên hệ 0779288883 hoặc Zalo

Chia sẻ bài viết này:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *